Trang chủ > Cọc Jet grouting > Xử lí nền đập khe Ngang bằng cọc xi măng đất

Xử lí nền đập khe Ngang bằng cọc xi măng đất

XỬ LÝ NỀN ĐẬP KHE NGANG BẰNG CỌC XIMĂNG ĐẤT

THEO PHƯƠNG PHÁP JET-GROUTING

PGS.TS Nguyễn Quốc Dũng; NCS Phùng Vĩnh An

Tóm tắt:

Hồ chứa nước Khe Ngang nằm ở Huyện Hương Trà, Tỉnh Thừa Thiên – Huế, có dung tích 15 triệu m3. Đập chính bằng đất có chiều dài 782m, chiều cao chỗ lớn nhất 16m. Đập nằm trên nền đất sét bụi, dẻo mềm, kém chặt, cần phải có biện pháp xử lý nền mới có thể đắp đến chiều cao thiết kế. Các phương án thiết kế đề xuất như: thay thế đất, cọc cát, bấc thấm, .. không được chấp nhận vì nhiều lý do, trong đó có lý do tiến độ của công trình không cho phép dự án kéo dài. Hội đồng khoa học công nghệ do Tỉnh Thừa Thiên -Huế thành lập đã xem xét phương án xử lý nền đập chính bằng cọc ximăng đất theo phương pháp Jet-grouting do Viện Thủy công đề xuất.

Bài báo trình bày kết quả nghiên cứu tính toán ứng suất biến dạng của đập và nền được gia cố bằng cọc XMĐ trong và sau khi đắp đập. Kết quả nghiên cứu đã làm sáng tỏ được một số vấn đề mà Hội đồng khoa học yêu cầu  như: cố kết, ứng suất kéo cục bộ, thấm ,….

Summary:

Khe Ngang Dam is in HuongTra Dist., Thua Thien – Hue Province with reservoir of 15 million cubic metter. Earthfill dam has 783m long of crest, 16m heigh in deepest place. Dam foundation soil is in kind of fine soft clay, that should be treated before filling. Some treatment methods such as soil replacement, sand collumns, PVD tubes,… had submited but that could not be aproved because construction time is limeted as request from international funded orgnization. The science consultant boad had been established to listen and approve the alternative that used Jet-grouting cement-soil columns that’s suggested by Hydraulic Construntion Institute.

The paper summary the report from above project, that shows stress-train relationships in the body and in the treated foundation of dam during and after filling. The test case has anwsered some questions from science board, such as: consolidation, possible local trained area in the dam body, leakage, etc …

1- Giới thiệu về đập Khe ngang và phương án thiết kế

Hồ chứa nước Khe Ngang nằm ở Xã Hương Hồ, Huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế. Đập được đắp bằng đất đồng chất trên nền đất lớp 2, thuộc loại sét bụi, dẻo mềm, kém chặt với các chỉ tiêu cơ lý như sau:

+ Hệ số rỗng               e = 1,37

+ Góc ma sát trong     f = 9015′

+ Lực dính                  C = 0,12  kg/cm2

+ Mô đun biến dạng Eo = 36  kg/cm2

+ Độ ẩm tự nhiên W = 47  %

+ Xuyên tiêu chuẩn: N = 5

Theo cách phân loại hiện hành, có thể kết luận lớp 2 nằm vào giới hạn trên trong phân loại đất yếu. Tính toán khả năng chịu tải với mặt cắt thiết kế không xử lý cho thấy điều kiện ổn định thấm vẫn thỏa mãn. Tính toán kiểm tra ổn định trượt mái cho thấy hệ số an tòan: K = 0,87 < [K]. Đập bị mất ổn định trượt. Vì điều kiện ổn định không đảm bảo nên cũng không tiếp tục kiểm tra điều kiện về ứng suất – biến dạng cho trường hợp này.

Nếu không xử lý, chiều cao giới hạn có thể đắp được tính theo công thức:

[hgh] =5,14*Cu/K* γtn*(1-5,14*tanφu) =3,436 (m).

Điều này có nghĩa là chiều cao tối đa khi đắp chỉ được 3,5 (m) sau đó hoặc phải đợi cố kết mới đắp tiếp hoặc phải xử lý nền. Do tiến độ của dự án, nên phương án xử lý nền được xem xét.

Từ nhiều năm trước đã có những nghiên cứu phương án xử lý nền đập Khe ngang, đó là:

1.       Xử lý bằng cọc cát

2.      Xử lý bằng bấc thấm

Cả hai phương án trên đều không đảm bảo điều kiện chống thấm cho nền đập và bị loại không xem xét tiếp. Trong giai đoạn TKKT, Tư vấn thiết kế chọn phương án 3 như dưới đây:

3. Xử lý bằng cách bóc bỏ toàn bộ lớp đất yếu và thay thế bằng đất đắp đập.  Phạm vi đáy hố móng bóc bỏ như sau :  theo chiều dòng chảy, từ vị trí cách mép chân thượng lưu đập 2m về phía thượng lưu đến vị trí cách mép chân hạ lưu đập 2m về phía hạ lưu. Hệ số mái hố móng m = 1 : 5. Xem hình 1.

Hình 1- Phương án bóc bỏ lớp đất yếu

Kết quả tính toán cho thấy, với phương án thay thế đất trong mọi trường hợp đập   ổn  định về  trượt, về thấm.

Ưu điểm và nhược điểm:

+ Ưu điểm: Phương án này xử lý triệt để được lớp đất nền mềm yếu nằm phía dưới thân đập, độ an toàn cao, biện pháp thi công thông dụng.

+ Nhược điểm:

–       Thi công đào bóc móng đập sẽ gặp nhiều khó khăn vì hố móng đập rất sâu, bình quân từ 10 ¸15m, chiều rộng mở móng đập cũng rất rộng từ 200¸260m. Phần đất thải sau khi đào hố móng đập rất lớn (khoảng 430.000m3) đòi hòi các bãi thải phải có diện tích rộng (dự kiến 10ha) làm tăng khối lượng giải phóng mặt bằng và tăng giá thành xây dựng công trình.

–       Khối lượng đất đắp đập + đắp nền lớn (khoảng 705.000 m3) dẫn đến công tác khảo sát tìm kiếm vật liệu đất đắp gặp rất nhiều khó khăn.

–       Khối lượng đào đắp lớn, diễn biến thời tiết ở Huế lại rất phức tạp, mưa nhiều dẫn đến thời gian thi công công trình sẽ kéo dài, khống chế độ ẩm khó khăn.

–       Khi thi công phần móng đập, để giảm lượng nước thẩm thấu vào hố móng, cần phải xả hết toàn bộ lượng nước trong hồ Khe Ngang cũ. Điều này đồng nghĩa với việc, trong thời gian xây dựng, người dân sống trong vùng hưởng lợi của hồ Khe Ngang cũ sẽ không có nước để sản xuất. Đây cũng là một vấn đề lớn mà Ban Quản lý dự án Tây Nam Hương Trà rất khó giải quyết.

–        Các bãi vật liệu xây dựng phần lớn đều nằm trong lòng hồ có cao độ tự nhiên là 2.0¸3.0m. Biện pháp dẫn dòng thi công trong năm xây dựng thứ hai là dẫn dòng qua cống. Theo tính toán, mực nước trong hồ lúc này là +6.20m, nghĩa là các bãi vật liệu đều bị ngập trong nước. Do đó, trong năm xây dựng thứ nhất cần phải tiến hành khai thác toàn bộ đắt đắp cho năm thứ hai và vận chuyển chúng ra các bãi trữ. Điều này cũng làm tăng giá thành xây dựng công trình

2- Phương án xử lý nền bằng cọc XMĐ thi công theo phương pháp Jet-grouting

Phương án xử lý nền bằng cọc XMĐ thi công theo PP Jet-grouting. Cọc có đường kính D = 800 mm, bố trí thành hình hoa thị với các khoảng cách 2.0 (m). Tỷ lệ gia cố quy đổi ap = 12,16 %;  hàm lượng xi măng thiết kế là 300 kg/m3. Chiều dài cọc bố trí dựa trên nguyên tắc phân bố đều biến dạng, tức là ở nơi khối đắp cao thì bố trí cọc dài và ngược lại nơi đắp thấp thì bố trí cọc ngắn. Chiều sâu cọc xi măng đất biến đổi dọc theo chiều dài tuyến đập, phụ thuộc vào cấu tạo địa tầng.

Cọc XMĐ đã được ứng dụng khá rộng rãi trong xử lý nền khối đắp như đường giao thông, sân bay, bến cảng. Nhưng để xử lý cho đập đất trên nền đất yếu thì vấn đề lo ngại là liệu có xảy ra hiện tượng biến dạng không đều giữa vùng có gia cố và vùng không có gia cố không?. Kiểu như nệm lò xo, chỗ có gia cố cọc biến dạng sẽ nhỏ, khoảng giữ 2 cọc sẽ lún nhiều gây võng, điều đó sẽ dẫn đến nứt đập cục bộ. Vấn đề thứ hai cần quan tâm là diễn biến cố kết, lún trong quá trình đắp như thế nào.

Để làm sáng tỏ vấn đề trên phải giải quyết các vấn đề sau:

2.1- Thông số đầu vào cho tính toán:

a. Tính chất cơ lý của đất nền:
Bảng 1

Tên lớp Chỉ số dẻo

IPTLTN (KN/m3)/ TL chế bị (KN/m3)Dung trọng khô (T/m3)Hệ số thấm (cm/s)Tính chất cơ học

(Trungbình)Tính chất cơ học

(Trạng thái 1)Tính chất cơ học

(Trạng thái 2)Mô đun biến dạng E (KN/m2)/Hệ số poatxông µLực dính C (KN/m2)Góc ma sát  j (độ)Lực dính C (KN/m2)Góc ma sát  j (độ)Lực dính C (KN/m2)Góc ma sát  j (độ)Đất đắp (2a) 18,7/16152×10-52717o58’2816o57’2917o07’(*)

11000/0,25Đất nền lớp 119,219,114,81×10-42615o31’2012o00’  (**)

4500/0,22Đất nền lớp 218,616,411,15×10-51310o01’118o49’129o15’(**) 3300/0,4Đất nền lớp 419,318,914,61×10-42215o48’2015o16’2115o28’(**)

10600/0,2

Ghi chú: Do thiếu tài liệu thí nghiệm nên:

(*) Mô đun biến dạng của lớp đất đắp lấy theo báo cáo kết qủa thí nghiệm. Tương ứng với điều kiện đắp  (KN/m2). Lấy tròn số  (KN/m2).

(**) Mô đun biến dạng của đất nền lớp 1, 2 và 4 lấy theo kết qủa thí nghiệm SPT trên hiện trường. Các giá trị được lấy theo TCXD 226:1999 Đất xây dựng – Phương pháp thí nghiệm hiện trường – thí nghiệm xuyên tiêu chuẩn.

b. Tính chất cơ lý của cọc XMĐ

Bảng 2:

Cường độ kháng nén một trục qu (KN/m2) Góc ma sát j (độ) Lực dính C (KN/m2) Mô đun biến dạng Hệ số poisson
800 40 70 40000 0,2

Ghi chú:

1- Cường độ kháng nén một trục qu(KN/m2), Góc ma sát trong j (độ), Lực dính của cọc xi măng đất dự kiến dựa theo các tài liệu sau:

+ Kết qủa các dự án, đề tài đã thực hiện: (1) Đề tài cấp nhà nước về cống dưới đê (2) Đề tài Nghiên cứu đề xuất phương pháp tính sức chịu tải của cọc xi măng đất (3) Kết qủa thí nghiệm cọc xi măng đất của dự án cống 9500, cống Mương đình, cống Rạch gập, cống Tám thước thuộc hệ thống Ô môn-Xà no.

+ Theo tiêu chuẩn Mỹ FHWA-SA-98-86 lực dính của cọc xi măng đất C = (10 ÷ 50)Cu của đất nền.

2- Mô đun biến dạng của cọc xi măng đất cũng được dựa trên các tài liệu sau:

+ Các kết qủa dự án, đề tài như đã nêu trên.

+ Theo TCXDVN 385 – 2006. E = (50 ÷ 100) Cc (với Cc là lực kháng cắt không thoát nước) hoặc E = (25 ÷ 50)qu

+ Theo dự thảo tiêu chuẩn thiết kế thi công và nghiệm thu cọc xi măng đất của Bộ Giao Thông năm 2006: E = (100 ÷ 300) qu

+ Theo tiêu chuẩn của Mỹ FHWH- RD -99 -138: tại bảng 5 trang 93: E = (100 ÷ 500) qu

+ Dựa vào các tài liệu trên và kinh nghiệm thiết kế. Đối với loại đất có áp lực thiết kế tương tự lấy thiên về an toàn: E = 50 qu = 40000 (KN/m2)

3-  Hệ số Poisson của cọc xi măng đất lấy tương tự như đối với đất sét cứng.

c. Tính chất cơ lý của nền tương đương

Theo TCXDVN 385 – 2006 xem khối cọc xi măng đất và đất xung quanh là khối hỗn hợp với tỷ lệ gia cố ap = 12,16 % , các chỉ tiêu quy đổi tương đương của khối hỗn hợp như sau.

Bảng 3:  Chỉ tiêu cơ lý tương đương của khối hỗn hợp

Tỷ lệ gia cố ap (%) Góc ma sát tương đương jtd (độ) Lực dính tương đương C (KN/m2) Mô đun biến dạng E(KN/m2) Hệ số poatxông m
12,16 12059 19,05 7762,66 0,2

2.2- Tính toán ổn định thấm

TH 1: Mực nước thượng lưu ở MNDBT 13.2 , hạ lưu không có nước.

TH 2: Mực nước thượng lưu ở MNGCTK 14.38, hạ lưu không có nước.

Thấm qua đập được tính bằng phần mềm SEEP/W. Bài toán thấm qua đập đất được mô phỏng thành bài toán thấm không áp. Cần xác định hai giá trị cơ bản của bài toán này là Gradient J và lưu lượng thấm qua đập q (m2/s).

Bảng 4- Kết qủa tính toán thấm

Mặt cắt TT Lưu lượng q (m2/s) Gradient

Jxy(thân đập)Gradient

Jxy(nền đập)Mặt cắt CN 49TH1TH2TH1TH2TH1TH21,923 E-52,547 E-50,60,80,30,4

Kết luận: Trong mọi trường hợp tính toán Gradient Jxy ra của thân đập < [Jk]cpt = 0,85 và Gradient của nền đập Gradient Jxy nền đập < [Jk]cpn = 0,65. Do đó công trình an toàn về thấm. [Jk]cpt và [Jk]cpn lấy theo bảng 4-4 Tiêu chuẩn thiết kế đập đất đầm nén ( 14 TCN 157 – 2005)

2.3- Tính toán ổn định trượt tổng thể.

Các trường hợp tính toán.

+ Đối với mái thượng lưu: Trong cả hai trường hợp thi công và khai thác, sơ đồ lực tác dụng lên mái đập ở hạ lưu đều bất lợi hơn so với mái hạ lưu. Nên nếu mái hạ lưu ổn định thì mái thượng lưu cũng ổn định. Do đó chỉ cần kiểm tra đối với mái hạ lưu.

+ Đối với mái hạ lưu:

TH 1. Mực nước thượng lưu MNDBT = 13,2, hạ lưu không có nước.

TH 2.  Mực nước hạ lưu ở MNDGCTK = 14,38, hạ lưu không có nước.

Phương pháp và sơ đồ tính toán.

Chọn mặt cắt tính toán là mặt cắt CN 49. Ổn định của đập đất được tính bằng phần mềm Geo-Slope. Hệ số ổn định của đập được tính bằng phương pháp Bishop, đường bão hòa, áp lực nước lỗ rỗng được xác định bằng cách ghép nối với mô đun SEEP/W tính toán cho bài toán trên. Các lực tác dụng bao gồm:

– Trọng lượng bản thân của đập.

– Áp lực nước thượng lưu.

– Áp lực nước lỗ rỗng, áp lực thấm….vv

Bảng 5-  Kết qủa tính toán ổn định tổng thể

Mặt cắt tính toán Trường hợp 1 Trường hợp 2
CN 49 1,377 1,375

Kết luận:

Với tổ hợp cơ bản (trường hợp 1) Ktt = 1,377 > [K] = 1,3; Với tổ hợp đặc biệt Ktt = 1,375 > [K] = 1,1. [K] lấy theo bảng 4-6 Tiêu chuẩn thiết kế đập đất đầm nén (14 TCN 157 – 2005). Vậy, đập đảm bảo an toàn về ổn định trượt tổng thể.

2.4. Tính toán biến dạng

Vấn đề cần được quan tâm nhất là ứng suất – biến dạng trong thân đập, nền đập sau khi đã được xử lý nền bằng cọc xi măng đất. Do vậy, trong mục này tư vấn sẽ thực hiện 2 phương pháp tính tóan: (1) Theo cách của TCXD 385-2006 là tính toán ứng suất – biến dạng theo mô hình nền tương đương; (2) Theo cách mô phỏng cọc xi măng đất và nền riêng rẽ.

Bài toán tương đối phức tạp vì vừa yêu cầu tính tóan ứng suất – biến dạng theo thời gian (cố kết nền) theo qúa trình thi công đắp đập, vừa mô phỏng sự tương tác cục bộ giữa nền và cọc xi măng đất. Trong qúa trình thực hiện việc tính toán, nhóm nghiên cứu của Viện Thủy Công đã sử dụng phần mềm Plaxis 3D Foundation ver 2.2 để mô phỏng. Tuy nhiên do số lượng cọc xi măng đất của bài toán qúa lớn, thuật toán của chương trình và khả năng về tốc độ và bộ nhớ của máy tính có hạn nên việc tính toán trên mô hình 3D chỉ có thể thực hiện được với lượng cọc xi măng đất rất hạn chế (< 24 cọc). Do vậy yêu cầu thực hiện tính toán trên mô hình 3D chưa thể thực hiện được và chỉ dừng lại dạng 2 chiều (2 D) theo 2 phương pháp đã nêu trên.

Các trường hợp tính toán

Thông thường, bài toán kiểm tra ứng suất-biến dạng cho đập đất được kiểm tra với 2 trường hợp tính toán: (1) Trường hợp đang tiến hành thi công đắp đập (bài toán thi công). (2) Trường hợp vận hành khai thác (bài toán khai khác). Với bài toán này,ta kiểm tra tính toán cho trường hợp 1.

Phương pháp và sơ đồ tính toán

Chọn mặt cắt đại diện tính toán là mặt cắt CN 49. Phần mềm sử dụng để phân tích là phần mềm Plaxis 2D của Hà Lan. Bài toán ứng suất – biến dạng của đập đất trong trường hợp thi công được đưa về bài toán phẳng. Tòan bộ bài toán được chia thành 513 phần tử tam giác 15 nút. Bài toán chia làm 2 bước:

+ Bước 1 mô phỏng ứng suất hiện trường.

+ Bước 2 sau thời gian 90 ngày kể từ khi thi công xong toàn bộ cọc xi măng đất gia cố nền sẽ tiến hành thi công đắp đập. Mô phỏng bài toán thi công đắp đập trong điều kiện bất lợi bị sức ép về mặt tiến độ (thi công khối đắp cao 15 m trong vòng 115 ngày). Bài toán thi công khối đắp được chia thành 23 lớp đất, mỗi lớp dày 0,6 (m) thi công trong thời gian 5 ngày. Sau khi thi công xong đắp đập việc tính toán kéo dài thêm 2 năm (720 ngày) để xem xét vấn đề tiêu tán áp lực nước lỗ rỗng cũng như biến dạng.

Nhận xét kết qủa qua 2 phương pháp tính:

Về Biến dạng tổng thể: Kết qủa độ lún tổng thể với điểm mặt đập trên 2 mô hình là tương tự nhau. Với sơ đồ nền tương đương độ lún là 776,83×10-3 (m) , với cọc và nền tách biệt là 809,71×10-3 (m). Chênh lệch lún cục bộ trên mô hình cọc và nền tách biệt giữa 3 điểm gần vị trí tim đập (D: trên đất nền , E: trên đỉnh cọc, F trên đất nền) chênh lệch nhau khoảng 1 cm (xem hình 2)

Hình 2: Biến dạng trong đất nền tính theo mô hình cọc – đất tách biệt bằng phần mềm Plaxis

Trên sơ đồ hình 2 thấy rằng điểm C (giữa đập, mặt lớp 1) có độ lún lớn nhất = 0,68 (m). Điểm E đỉnh cọc xi măng đất có độ lún 0,53 (m). Điểm H đáy cọc xi măng đất có độ lún 0,01 (m). Điều đó chứng tỏ cọc xi măng đất làm việc ở trạng thái đàn hồi. Phía đỉnh cọc lực tác dụng lớn dẫn đến chuyển vị lớn, ở đáy cọc lực tác dụng nhỏ hơn do vậy lún nhỏ hơn. Đây chính là điều khác biệt so với cọc bê tông cốt thép.

Các kết qủa về độ lún theo thời gian đều kết thúc tại thời điểm 122 ngày kể từ khi bắt đầu đắp đập.

– Về sự tiêu tán áp lực nước lỗ rỗng: Với mô hình tương đương, áp lực nước lỗ rỗng bằng -0,074 (KN/m2)  » 0 tại thời điểm sau khi đắp 212 ngày. Với mô hình cọc  và đất riêng rẽ áp lực nước lỗ rỗng bằng -0,028 (KN/m2)  » 0 tại thời điểm sau khi đắp 228 ngày. Sự tiêu tán áp lực nước lỗ rỗng trong nền rất nhanh chóng kể từ khi kết thúc đắp đập (115 ngày).

-Về ứng suất: Ứng suất tính toán theo phương pháp mô hình cọc và đất nền tách biệt có giá trị s’y = – 376,13(KN/m2) tại vị trí sâu nhất của mũi cọc xi măng đất. Ở vị trí tương ứng theo phương pháp mô hình tương đương giá trị này là -320 (KN/m2). Không có hiện tượng có ứng suất kéo (với cả 2 phương pháp tính toán) trong toàn miền tính.

3- Nhận xét và kết luận:

3.1-  Từ kết quả tính toán trên cho phép rút ra một số nhận xét sau:

+ Kết quả tính toán ứng suất và biến dạng ở 2 cách tính (mô hình nền tương đương và mô hình cọc – đất tách biệt) sai khác nhau không nhiều. Việc tính theo mô hình cọc-đất tách biệt mất nhiều thời gian và đòi hỏi phần mềm cũng như cấu hình máy tính mạnh. Vì vậy, trong những trường hợp tương tự có thể sử dụng mô hình quy đổi tương đương để thuận lợi cho tính toán và cho kết quả nhanh chóng;

+ Ứng xử của cọc XMĐ khác biệt với cọc cứng (BTCT) ở chỗ nó cůng chịu ép co khi chịu tải. Điều này cho thấy khi gia cố cọc XMĐ thì nên quan niệm như là một giải pháp cải tạo nền chứ không nên coi như một giải pháp móng cọc.

+ Có 2 yếu tố cần khống chế để không xuất hiện sự tập trung ứng suất đầu cọc:

– Hàm lượng ximăng không nên quá cao, nói chung không nên quá 350 kg/m3;

– Mật độ cọc cần tuân theo chỉ dẫn trong TCXD 385-2006, nằm trong khoảng 12 ~ 20%;

3.2- Kết luận:

Kết quả tính toán trình bày ở trên làm sáng tỏ một số vấn đề mà các Tiêu chuẩn hiện hành đã nêu, lần đầu tiên được thực hiện trong lĩnh vực này ở Việt nam. Kết quả tính toán đã trả lời cho những vấn đề còn băn khoăn của các thành viên Hội đồng khoa học, làm căn cứ để Bộ NN&PTNT có văn bản thỏa thuận kỹ thuật và UBND Tỉnh Thừa Thiên – Huế ra quyết định áp dụng cho công trình Khe Ngang.

Trong quá trình thi công sẽ phải có những thí nghiệm, quan trắc và theo dõi để tiếp tục hoàn thiện công nghệ cũng như phương pháp tính.

Tài liệu tham khảo

1.Trường Đại học Đồng tế, “Quy phạm kỹ thuật xử lý nền móng”, Shanghai- Standard: Ground treatment code, DBJ 08 40 94, năm 1995;

2. Bộ xây dựng, “Gia cố nền đất yếu bằng trụ đất xi măng”, TCXDVN 385:2006, Hà Nội, năm 2006;

3. Tiêu chuẩn Châu âu EN 12716:2001.

4. Trường đại học Thủy lợi,“Geotechnical Modelling Fundamentals, Theory and Application of Software”, Lớp học ngắn hạn Plaxis, Hà Nội, tháng 10 Năm 2001;

5. Nguyễn Quốc Dũng, Phùng Vĩnh An, Nguyễn Quốc Huy “Công nghệ khoan phụt cao áp trong xử lý đất yếu”, Nhà xuất bản nông nghiệp, Năm 2005;

6. Đề tài cơ sở “Nghiên cứu đề xuất phương pháp tính sức chịu tải của cọc xi măng – đất”, Viện Khoa học Thủy lợi, Năm 2007;

7. Bergado D.T., Chai J.C., Alfaro MC., “Những biện pháp kỹ thuật mới cải tạo đất yếu trong xây dựng”. NXB Giáo dục, 1996.

8. Tiêu chuẩn Mỹ FHWA-SA-98-86 và FHWH- RD -99 -138 về gia cố đất nền bằng cọc xi măng đất.

9. Các phần mềm sử dụng trong tính toán

+        Phân tích thấm dùng môđun SEEP/W trong bộ phần mềm GEO-SLOPE OFFICE ver 5.0 của hãng phần mềm quốc tế CANADA.

+        Phân tích ổn định tổng thể dùng môđun SLOPE/W trong bộ phần mềm GEO-SLOPE OFFICE ver 5.0 của hãng phần mềm quốc tế CANADA.

+        Phân tích ứng suất – biến dạng sử dụng phần mềm Plaxis ver 8.5 của Hà Lan.

+        Một số phần mềm phụ trợ khác do Viện Thủy công tự xây dựng

Advertisements
Chuyên mục:Cọc Jet grouting Thẻ:
  1. Không có bình luận
  1. No trackbacks yet.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

w

Connecting to %s

%d bloggers like this: