Trang chủ > Bài viết, Cọc vữa > Một số cơ chế phá hoại của nền đắp trên đất yếu dùng cọc đất gia cố xi măng

Một số cơ chế phá hoại của nền đắp trên đất yếu dùng cọc đất gia cố xi măng

Một số cơ chế phá hoại của nền đắp trên đất yếu dùng cọc đất gia cố xi măng

Tóm tt

Phương pháp trộn sâu để chế tạo các cọc đất gia cố xi măng đã được dùng ở Việt Nam cho các công ttrình trên nền đất yếu. Tuy nhiên, hiện nay Việt Nam v ẫn chưa có quy trình tính toán cho nền được gia cố bằng cọc xi măng đất. Để giúp người thiết kế hiểu rõ hơn một số cơ chế phá hoại củ a nền đắp trên đất y ếu được gia cố cọc xi măng đất, bài này trình bày một số dạng phá hoại được quan sát qua thí nghiệm mô hình trong buồng ly tâm.

I. Gii thiu chung

Phương pháp trộn sâu xi măng với đất để tạo ra các cọc đất gia cố xi măng (cement deep mixing method-CDM) đã bắt đầu được dùng ở Việt Nam để gia cố nền đất yếu. Phương pháp này có nhiều ưu điểm như:

+  Thời gian thi công nhanh;

+  Chiều sâu đất yếu được gia cố lớn (có thể đến 50m) với thiết bị thi công hiện nay;

+   Cường độ cọc đất gia cố xi măg tương đối cao. Nếu dùng lượng xi măng từ 150 đến 400kg/m3, cường độ nén một trục mẫu hình trụ là qu = 1.0 đến 15MN/m2 cho đất cát và qu = 0.5 đến 3 MN/m2 cho đất bụi và đất sét (Geotechnical Engineering Hanbook, 2003).

+   Với công nghệ hiện nay, cọc đất gia cố xi măng có thể được chế tạo với nhiều kích cỡ khác nhau. Ở Nhật Bản, máy trộn sâu có thể là 1 trục trộn cho đến 4 trục trộn. Với máy nhiều trục, các trục này được gắn với cánh quay và quay ngược chiều nhau khi trộn đất với xi măng để tạo ra cọc đất gia cố có chất lượng tốt, đồng đều. Đường kính cọc có thể từ 0.5 cho đến 1m. Gần đây ở Nhật Bản đã xuất hiện các thiết bị lớn có thể chế tạo cọc với diện tích là 1m2, 2,2m2, 5.7m2.

Cọc đất gia cố xi măng có thể được dùng cho nhiều loại hình công trình với nhiều mục đích khác nhau như:

+  Gia cố nền đường đắp trên đất yếu.

+  Tăng cường độ ổn định mái dốc;

+  Bảo vệ các công trình xung quanh hố móng đào;

Khi tính toán cọc đất gia cố xi măng cần phải kiểm toán: – Kiểm toán ổn định tổng thể công trình;

1-   Kiểm toán khả năng chịu tải của bản thân các cọc đất gia cố xi măng;

–  Kiểm toán độ lún của nền.

Bài viết này chỉ trình bày một số cơ chế phá hoại của cọc đất gia cố xi măng cho nền đường đắp mà người thiết kế cần phải xét đến trong tính toán.

II. n định tng th ca các cc đất gia c xi măng

Có hai dạng phá hoại chính cần phải xem xét đối v ới trường hợp mất ổn định tổng thể đó là: mất ổ n định do trượt ngang các cọ c đất gia cố; mất ổn định khi khối cọc quay quanh mép của khối, (Public Work Research Center, 2004).

Các dạng phá hoại này đã được nghiên cứu trong phòng thí nghiệm qua mô hình ly tâm. Với mô hình ly tâm, sự thay đổi áp lực địa tầng tăng dần tuyến tính theo độ sâu có thể được mô phỏng bằng lực ly tâm khi mô hình thí nghiệm được đư a vào buồng quay. Buồng ly tâm có tốc độ quay và bán kính càng lớn sẽ mô phỏng được các bài toán địa kỹ thuật có lớp đất càng cao. Ví dụ một khối đất có khối lượng 10kg, được quay trong buồng ly tâm với bán kính quay là 4m với vận tố c góc là ω=16 radians/s sẽ có một gia tốc hướng tâm là 4×162 = 1024m/s2 và lực ly tâm là 10kgx1024m/s2 xáp xỉ là 10kN. Nếu lấy trọng lượng thể tích củ a đất là 20kN/m3, tiết diện vuông góc với bán kính quay là 0.2 x 0.2m thì lực ly tâm của mô hình có th ể mô phỏng được áp lực địa tầng đến hơn 12m. Khi mô phỏng bài toán với tỷ lệ n thì tỷ lệ giũa bài toán thực và mô hình có thể tham khảo.

Bng 1. T l các đại lượng trong mô hình ly tâm so vi bài toán thc

Các đại lượng Giá trị trong bài Giá trị trong mô
toán thực hình với tỷ lệ 1:n
Chiều dài ll lm  = ll/n
Diện tích Al Am= Al/n2
Thể tích Vl Vm  = Vl/n3
ứng suất σl σm  = σl
Lực Fl Fm = Fl/n2
Mômen Ml Mm= Ml/n3
Chuyển vị l m=   l/n
Biến dạng εl εm= εl
Thời gian cố kết tct tcm  = tct/n2
Tần số (trong thí nghiệm động) fl fm= nfl
Thời gian cho các tương tác động ttd tmd  = ttd/n
Vận tốc (cho các thí nghiệm động) vl vm  = vt
Gia tốc (cho các thí nghiệm động) al am  = al/n

Do có sự thay đổi của gia tốc h ướng tâm theo bán kính nên có sự khác nhau về áp lực do trọng lượng bản thân và áp lực gây ra do lực hướng tâm như ng sự sai khác này là không đáng kể (Schofield, 1980). Với tính chất như đã nói trên mô hình ly tâm thường được sử dụng để nghiên cứu cơ ch ế phá hoại củ a các bài toán Địa kỹ thuật. Bài toán thự c tế được mô phỏng vớ i kích thước bé h ơn nhiều và tỷ lệ các đại lượng theo như Bảng 1. Dướ i tác dụng của gia tốc trọng trường (1g), sẽ không có sự phá hoại với mô hình, nhưng khi đưa mô hình vào buồng ly tâm và quay với tốc độ nhất định, mẫu sẽ chịu tác dụng của gia tốc hướng tâm, và sự phá hoại sẽ xảy ra giống như bài toán thực tế. Mặc dù vậy, mô hình này vẫn tồn tại một số nhược điểm, đó là các thuộc tính nội tại của đất như lực masát, lực dính đơn vị rất khó mô phỏng trong mô hình ly tâm (Nguyễn Đức Hạnh, Lê Thị Hồng Vân, 2006).

Các cọc đất gia cố có đường kính 2cm, dài 20cm, gia cường lớp sét mềm yếu dày 20cm. Khi đưa vào buồng quay ở 50g, mô hình tương đương vói 10m đất sét gia cố bằng cọc đất xi măng có đường kính 1m. Nền đường đắp mô phỏng được tăng dần trong quá trình quay, phá hoại xảy ra khi áp lực nền đắp xuống lớp sét khoảng 80kN/m2.

a. Mt n định do trượt ngang

Với kiểu phá hoại này các cọc đất gia cố và đất xung quanh các cọc di chuyển theo một khối khi mất ồn định.

Khi mất ổ n định theo dạng này có thể xem áp lực đất lên kh ối trượt phía nền đắp (bên phải là áp lực chủ động, còn áp lực đất lên khối trượ t phía trái là áp lực đất bị động. Phía dưới đáy khối trượt có hai thành phần: i) lực chống cắt trượt giữa cọc và đất dưới chân cọc; ii) lực chống cắt trượt giữa đất và đất.

Từ đó hệ số ồn định của khối trượt được xác định theo công thức sau:

Fs=    Fp  +Tcd   +Td d

(1)

Ea

Trong đó:

Fs  – Hệ số ổn định của khối;

Ep– Áp lực đất chủ động của lớp đất yếu phía trái;

Tcd – Lực chống cắt trượt giữa cọc và đất dưới đáy khối trượt. Td-d– Lực chống cắt trượt giữa đất và đất dưới đáy khối trượt.

Ea  – Áp lực đất chủ động lên khối, bao gồm cả phần đất đắp và đất yếu.

b. Mt n định do khi cc quay quanh mép ca khi

Dạng thứ hai của mất ổn định tổng thể là cả khối cọc và đất giữ a các cọc quay quanh mép của khối cọc. Để xác định độ ổn định dưới dạng phá hoại này, có thể dùng mô hình tính đơn giản.

Hệ số an toàn có thể tính theo công thức đơn giản sau:
Fs  =  M pc  + M pd   + M pk   + M dc  + M cc

(2)

Ea
Trong đó:

3

Mpc  – Mô men chống lật do áp lực bị động.

Mpd – Mô men chống lật do trọng lượng đất đắp trên khối đang xét. Mpk – Mô men chống lật do trọng lượng bản thân khối.

Mdc – Mô men chống lật do sức kháng cắt trượt dọc theo cọc gia có (chỉ nên tính cho các cọc ở mép khối).

Mcc – Mô men chống trượt do sức kháng cắt trượt của đất ở biên của khối mất ổn định. Ma – Mô men gây trượt co áp lực đất chủ động.

III. Mt n định do các cc không đủ cường độ

Ngoài cơ chế phá hoại đã xét ở trên ta còn phải kiểm toán trường hợp b ản thân cọ c không đủ cường đô. Phá hoại theo kiểu này có 3 dạng chính i) Cung trượt tròn cắt ngang qua các cọc; ii) trượt theo phương ngang cắt qua các cọc; iii) Khối trượt uốn gẫy các cọc.

Sau đây là một số mô hình tính đơn giản để xác định hệ số ổn định cho các dạng phá hoại kể trên.

a. Mt n định do trượt ngang

Mặt trượt tròn được dùng để kiểm toán cho trường hợp phá hoại này. H ệ số ổn định được xác định như việc đánh giá ổn định mái dốc thông thường, chỉ khác ở chỗ phải tính đến sức kháng cắt trượt của các cọc gia cố.

Sức kháng cắt của cọc đất gia cố có thể lấy bằng một nửa cường đô nén một trục (qu/2).

b. Mt n định do khi trượt ngang ct qua các cc
Hệ số ổn định được xác định theo công thức sau:
Fs  =   E p   +Tcc  +Td d

(3)

Ea

Trong đó:

Ep – Áp lực đất chủ động của lớp đất yếu phía trái. Tcc – Lực chống cắt trượt của cọc (lấy bằng qu/2)

Td-d– Lực chống cắt trượt giữa đất và đất dưới đáy khối trượt

Ea– Áp lực đất chủ động lên khối, bao gồm cả phần đất đắp và đất yếu.

Khi kiểm toán cọc b ị phá hoại theo kiểu này, cần khảo sát chiều sâu của khối trượt (z) để cho hệ số ổn định là nhỏ nhất.

c. Mt n định do khi trượt un gy các cc
Hệ số ổn định được xác định theo công thức:

Fs=  M pc  + M pd   + M pk   + M dc  + M cc  + M cu

(4)

Ea

Trong công thức trên các đại lượng tương tự như Công thức 2, ngoại trừ Mcu là mô men chống uốn gẫy của các cọc. Tương tự như trường hợp b, khi đánh giá ổn định cho trường hợp này cần phải xác định hệ số ổn định nhỏ nhất.

IV. Kết lun

Cọc đất gia cố xi măng chế tạo theo phương pháp trộn sâu là một phương pháp gia cố nền đất yếu có thể áp dụng kinh tế, hiệu qu ả ở n ướ c gta. Trong thiết kế và xây dựng cần xem xét một số cơ chế phá hoại nói trên, để hiểu rõ hơn cơ chế phá hoại, việc áp dụng thí nghiệm dùng buồng ly tâm nên được áp dụng ở nước ta.

TS Nguyn Đức Hnh, ThS Phm Thanh Hà

(Ngun tin: T/C Cu đường Vit Nam, s 5/2007)

Advertisements
  1. Không có bình luận
  1. No trackbacks yet.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: